Thành ngữ Nhật Bản


おれんに腕押し
Noren ni udeoshi
おれん(rèm cửa ra vào của hiệu ăn), に(giới từ, trong câu này là giới từ chỉ sự tác động), うで(cánh tay), おし(đẩy); "Cánh tay đẩy rèm cửa". Câu này có thể hiểu là "đánh vào không khí (thì không có kết quả gì)", có nghĩa là : một phía có chủ động đến đâu thì phía kia cũng không có hoặc không không biểu lộ phản ứng gì.

顔が売れる
Kao ga ureru
かお(mặt), が(giới từ chủ đích), うれる(bán được); "Mặt bán được". Câu này có nghĩa là : trở nên nổi tiếng, được nhiều người biết đến.

目が肥える
Me ga koeru
め(mắt), が(giới từ chỉ chủ đích), こえる(phong phú, giàu có) "Mắt phong phú". Nói như người Việt mình là "có con mắt tinh đời(đối với sự vật)". Câu này chỉ những người có nhiều kinh nghiệm nhìn ngắm sự vật nên có khả năng nhận ra giá trị của một vật.

雀の涙
Suzume no namida
すずめ(chim sẻ), の(giới từ chỉ sở hữu, có nghĩa là của), なみだ(nước mắt); "Nước mắt chim sẻ" hay nói như người Việt Nam "Bé như mắt muỗi" , có nghĩa là rất ít, rất nhỏ, không có gì đáng kể.

大風呂敷を広げる
Ooburoshi o hirogeru
おお(to, lớn), ふろしき(khăn tắm), を(giới từ chỉ mục tiêu), ひろげる(trải rộng ra); "Trải rộng chiếc khăn tắm lớn" có nghĩa là : nói hoặc vẽ ra một kế hoạch không có khả năng thực hiện.

一期一会
Ichigo ichie
いちご(đời người), いちえ(gặp một lần). "Đời người chỉ gặp một lần". Câu này có thể hiểu là: “nhất kỳ nhất hội”. Câu này có nguồn gốc từ một Triết lý trong Trà Đạo. Triết lý này cho rằng : mọi cuộc gặp gỡ của chúng ta với một ai đó đều chỉ có một lần nên chúng ta nên trân trọng cuộc gặp gỡ ấy, đối xử với người đó bằng tấm lòng chân thành để về sau không phải tiếc nuối. (Ai đọc Hana yori dango chắc không lạ gì câu này)

雨降って地固まる
Ame futte ji katamaru
あめ(mưa), ふって(thể Te của động từ Furu, có nghĩa là rơi), じ(đất), かたまる(cứng lại); "Mưa xong thì đất cứng lại", có nghĩa là : sau những rắc rối, khó khăn là sự bắt đầu của những điều tốt đẹp.

花よりだんご
Hana yori dango
はな(hoa), より(hơn), だんご(bánh hấp); "bánh hấp hơn hoa", có nghĩa là : thái độ, cách suy nghĩ thực tế đối với cuộc sống, chọn những thứ có giá trị thực tế hơn là nhưng thứ chỉ để làm đẹp hoặc chỉ có giá trị tinh thần.

鶴の一声
Tsuru no hitokoe
つる(con sếu), の(giới từ chỉ sở hữu, có nghĩa là của), ひとこえ( một tiếng kêu); "Sếu" trong câu này tượng trưng cho người có quyền lực, "Một tiếng kêu của con sếu", hay nói như người Việt "Miệng nhà quan có gang có thép", có nghĩa là : một tiếng nói của người có quyền lực cũng đủ để quyết định sự việc.

渡りに船
Watari ni fune
わたり(lối đi, đường đi qua), に(ở, trên), ふね(thuyền); "Con thuyền trên lối đi", tương tự tục ngữ của Việt Nam "chết đuối vớ được cọc" hoặc "buồn ngủ gặp chiếu manh", có nghĩa là : dịp may đến đúng lúc đang gặp khó khăn hoặc điều đang mong ước bỗng nhiên thành hiện thực.

水に流す
Mizu ni nagasu
みず(nước), に(giới từ, trong câu này có nghĩa là vào trong), ながす(làm, để cho chảy);"Để cho chảy vào trong nước" hay nói như người Việt Nam là " Hãy để cho quá khứ là quá khứ", có nghĩa là : quên nhưng rắc rối và những điều không hay trong quá khứ, hòa giải và làm lại từ đầu.

二足のわらじ
Nisoku no waraji
にそく(hai đôi), の(giới từ chỉ sở hữu, có nghĩa là của), わらじ(dép rơm); "Hai đôi dép rơm". Câu này có thể hiểu là "một người đi hai chiếc dép rơm khác nhau" hay "một người làm hai công việc cùng một lúc", có nghĩa là : một người kiêm cùng một lúc hai công việc có tính chất khác nhau.

猫猫に小判
Neko ni koban
ねこ(con mèo), に( giới từ, trong câu này có nghĩa là dối với), こばん(tiền xu làm bằng vàng trong thời kỳ phong kiến của Nhật Bản); "Đồng bằng vàng đối với mèo", tương tự với câu tục ngữ Việt Nam "Đàn gẩy ai trâu", có nghĩa là : bất kỳ thứ gì, dù có giá trị đến mấy cũng không có ý nghĩa gì đối với những người không hiểu được giá trị của nó.

下駄をあずける
Geta o azukeru
げた(guốc gỗ của Nhật), を(giới từ chỉ mục tiêu), あずける(gởi ký thác) "Gởi ký thác guốc gỗ". Nói như người Việt mình là " đá bóng sang chân người khác". Câu này có nghĩa là : giao việc xử lý, giải quyết những công việc của mình, liên quan đến mình cho người khác.

油を売る
Abura o uru
あぶら(dầu), を(giới từ chỉ mục đích), うる(bán); "Bán dầu" hay nói như người Việt Nam " la cà giữa đường" , có nghĩa là : bỏ công việc giữa chừng để nói chuỵên phiếm với ai đó, lười làm việc, giết thời gian bằng một việc vô bổ nào đó.

口が軽い
Kuchi ga karui
くち(miệng), が(giới từ chủ cách), かるい(nhẹ); "Miệng nhẹ". Câu này chỉ người hay tiết lộ bí mật của người khác, vô ý nói ra những câu không nên hoặc không cần nói.

竹を割ったよう
Take o watta you
たけ(tre), を(giới từ chỉ mục tiêu), わった(thể Ta của động từ waru, nghĩa là bẻ), よう(giống); "Giống như bẻ tre". Câu này có thể hiểu là "giống như khi bẻ đôi một thanh tre một cách dứt khoát". Câu này chỉ người có tâm tính cởi mở, thẳng thắn.

耳が痛い
Mimi ga itai
みみ(tai), が(giới từ chủ cách), いたい(đau); "Tai đau". Câu này có thể hiểu là "nghe chỉ trích nhiều đau cả tai", có nghĩa là : khó chịu phải nghe người khác nói đi nói lại về khuyết điểm của mình.

七転び八起き
Nana korobi ya oki
なな(7), ころび(ngã), や(số tám), おき(dậy); "7 lần ngã 8 lần đứng dậy". Câu này có thể hiểu là "cuộc đời lúc lên lúc xuống", tương tự một câu tục ngữ của Việt Nam "sông có khúc, người có lúc". Có nghĩa là : dù có thất bại có lặp đi lặp lại nhiều lần cũng không nản chí, gượng dậy và cố gắng đến cùng.

竹を割ったよう
Take o watta you
たけ(tre), を(giới từ chỉ mục tiêu), わった(thể Ta của động từ waru, nghĩa là bẻ), よう(giống); "Giống như bẻ tre". Câu này có thể hiểu là "giống như khi bẻ đôi một thanh tre một cách dứt khoát". Câu này chỉ người có tâm tính cởi mở, thẳng thắn.

井の中の蛙
I no naka no kawazu
い(cái giếng), のなかの(bên trong), かわず(con ếch); "Ếch ngồi trong giếng", tương tự tục ngữ Việt Nam "Ếch ngồi đáy giếng". Câu này có thể hiểu là "ếch ở trong giếng thì không biết gì về đại đương mênh mông", có nghĩa là : nhận xét, đánh giá sự vật một cách nông cạn từ kiến thức và suy nghĩ hạn hẹp.

棚からぼた餅
Tana kara botamochi
たな(cái giá), から(giới từ, có nghĩa là từ), ぼたもち( bánh dày bọc mứt đậu); "Bánh dày bọc mứt đậu rời từ trên giá xuống" hay nói như người Việt "Từ trên trời rơi xuống", có nghĩa là : không phải vất vả gì cả, tự nhiên vận may đến.

猿も木から落ちる
Saru mo ki kara ochiru
さる(con khỉ), も(cũng), き(cây), から(từ), おちる(rơi xuống); "Khỉ cũng rơi từ trên cây xuống". Câu này có thể hiểu là "khỉ là loài leo trèo giỏi nhưng cũng có khi rơi từ trên cây xuống", suy rộng ra : một người dù rất giỏi trong một lĩnh vực nào đó cũng có khi nhầm lẫn, thất bại.

Yêu mến một ai đó

Đôi khi bạn yêu mến một ai đó đơn giản chỉ vì người đó thật lòng yêu mến bạn. Tâm hồn chúng ta được sinh ra là để chờ sự đáp trả niềm yêu mến đến từ một tâm hồn khác. Nó giống như chiếc ống sáo, sẵn sàng reo lên khi ngọn gió mùa hè thôi qua.

19 Life Lessons We Don’t Want To Learn


1. There are only a certain amount of friends we can really have at any given point, and the rest are going to hover closer to acquaintance-status out of necessity. The people who seem to be surrounded with tons of people at every social event likely don’t have any more true friends than anyone else, they just have more reliable acquaintances.

Tập thể dục cho môi

Phụ nữ ở độ tuổi ngoài 25, vùng da quanh mắt và môi trở nên nhanh mất tính đàn hồi. thông thường chúng ta chỉ chú tâm vào những nếp nhăn đầu tiên xuất hiện ở đuôi mắt, tìm mọi cách xóa mờ chúng và che giấu bằng trang điểm mà bỏ qua vung da cạnh khóe môi. Sau nhiều năm bị bỏ quên, vùng quanh đôi môi hình thành một lưới nếp nhăn. Ở tuổi 40-50 nhiều quá bà mới cấp tốc cầu viện đến botox hoặc các biện phatps phuẫ thuật thẩm mỹ khác để căng da và làm mọng môi, tuy nhiên các cách này bắt họ phải thường xuyên nâng cấp định kỳ, đến khi sập sệ hẳn rất khó được trở lại như thời chưa can thiệp. Có câu nói “khi phụ nữ cười, ta dễ đoán tuổi chính xác của họ”- khá đúng trong trường hợp phụ nữ bớt cười vì sợ lộ nếp nhăn. Nếu ngay từ tuổi 25, chúng ta đầu tư thời gian cho những bài tập cơ mặt xung quanh miệng, mọi việc sẽ rất khác.
- Nhai mạnh với nước bọt suông là bài tập thể dục hiệu quả cho đôi môi và các cơ xung quanh miệng. Bạn có thể thực hiện bài tập này vào bất cứ lúc nào, lúc đọc báo mạng, lúc xem tivi, lúc nấu bếp. Nhai suông dễ gây mỏi cơ hàm tuy nhiên động tác này không hcir tốt cho môi mà còn tốt cho cơ dưới mặt, kích thích tiêu hóa, tiêu độc bằng vận động sản xuất tăng nước bọt.
- Huýt sáo và tập phát âm to, rõ rang các nguyên âm A, O, U, I, Ưi- hai bài tập này giúp tăng độ co giãn của cơ môi.
- Hít thở sâu và trong lúc thở ra phát âm một dãy âm “oh..oh..oh..”. Lặp 5-7 lần, độngt ác này làm mịn nếp gấp cánh, kéo căng nếp nhăn ở khóe miệng.
- massage môi bằng cách cắn nhẹ môi trên sau đó là môi dưới. Cắn và giữ môi giữa hai hàm răng cho tới khi thấy mỏi cơ trong má.
- Giẩu môi ra và mỉm cười trong tư thế bó môi đó. Làm 5-7 lần.
- Nghiến hai hàm răng vào nhau rồi cố gắng mỉm cười. Động tác này làm giảm nếp nhăn ỏ môi trên.
- Giẩu môi ra phía trước rồi đánh moi giẩu đó sang trái, sang phải, lên trên, xuống dưới. Lặp lại nhiều lần.
- Tư thế cá nói chuyện: bập hai môi khép vào nhau rồi nhả mạnh ra, giống như cá đớp không khí dưới nước, tuy nhiên cố gắng không để phát ra tiếng bập bập.
- dùng ngón tay trỏ và ngó cái của một bàn tay kéo căng môi trên, tay kia kéo căng môi dưới. Đưa từng môi hướng lên rồi hướng xuống. Động tác kích thích tuần hoàn máu và độ đàn hồi da môi.
- Hóp má hút chặt môi (giống động tác bóp môi làm con chuột trù) sau đó bất ngờ nhà mạnh miệng sao cho có tiếng kêu chụt như một nụ hôn.
- Tạo hơi thở mạnh bật ra từ phía trong khiến môi rung lên. Động tác này ví như “ngựa thở dốc” ví có tiếng phù phù.
- Tự nâng và “vén” cong làn môi trên sao cho lộ răng trên và lợi
- Miệng mở rộng nhưng đôi môi cố hút vào miệng và ép chặt vào hàm răng.
- Khép miệng, phồng má cho không khí vào căng bên trong, giữ càng lâu càng tốt.
- Ngậm một cái đũa ngắn, dùng môi chỉ huy để cây đũa vẽ trong không khí các hình tròn, hình vuông, tam giác, hoặc một vài chữ cái. Thực hiện chậm rãi.
- Tập cười nhếch mép từng bên. Nâng mép càng cao càng tốt.
- Tập luyện cơ lưỡi bằng cách cố chạm đầu lưỡi tới các góc xa nhất trong vòm họng. Động tác này vận động các cơ phía trong cơ mặt.
- Một động tác lý tưởng nhất cho đôi môi trẻ là hôn, hãy hôn nhiều và kéo dài nụ hôn.

25 Things You Should Remember To Do Every Day

1. Nourish yourself. Put things into your body that it needs. Skip that soda and grab a Naked Juice or buy a blender and make your own juice! You’ll love how much you save by not buying the store bought stuff.


2. Think about what goes into your body. Take a second to intellectually process your food, consider what’s in it and where it comes from.

Chỉ là chuyện thường tình

Quá khứ dù có đẹp đến đâu cũng vẫn là khổ đau, đều đã thành chuyện cũ. Có những con người, những tình cảm, chỉ còn là thứ đồ cổ đối với mình. Một khi đã đào lên trên không khí, chỉ có thể hoặc hủy hoại hoặc rớt giá. Chỉ khi đào sâu chôn chặt trong lòng không bao giờ nhắc tới nữa, mới là cách trân trọng và giữ gìn tốt nhất đối với tình yêu niên thiếu thuần khiết không bao giờ gặp lại ấy.